Lỗi
  • JUser::_load: Unable to load user with id: 64

Nguồn Thủy năng Việt Nam, hiện trạng và phát triển

Thủy điện là nguồn năng lượng sạch và bền vững, và đã được cộng đồng năng lượng quốc tế công nhận. Thủy điện đã giữ vai trò quan trọng trong phát triển bền vững nguồn nước và nguồn năng lượng Việt Nam.

Chính sách năng lượng Việt Nam đã thể hiện quyết nghị này trong tổng sơ đồ phát triển điện năng quốc gia Việt Nam, từ giai đoạn I đến giai đoạn VI hiện nay. Tuy nhiên sẽ phát triển bền vững nguồn nước và thủy điện trong tương lai, cần phải quan tâm đến những vấn đề sau: sự hợp tác phát triển nguồn nước xuyên biên giới, kết hợp chặt chẽ giữa các biện pháp kết cấu và phi kết cấu, sử dụng có hiệu quả nguồn nước cho sản xuất long thực, tối ưu hóa sản xuất thủy điện và một chương trình quốc gia về phát triển thủy điện nhỏ, mà thủy điện nhỏ sẽ giữ vai then chốt của sự phát triển các nguồn năng lượng phục hồi khác (gió, năng lượng mặt trời)

Mở đầu

Đề cập đến vấn đề “Nguồn thủy năng Việt Nam, hiện trạng và phát triển”, theo chủ đề của hội thảo “Nguồn năng lượng thay thế đang trong thời kỳ giá nhiên liệu leo thang” là nhằm khẳng định vai trò của thủy điện trong phát triển bền vững nguồn nước và nguồn năng lượng.

Nhìn ra thế giới, chúng ta đã thấy sự phồn vinh kinh tế toàn cầu đã làm chuyển động mạnh mẽ tiêu thụ năng lượng ở mức kỷ lục. Tuy nhiên phần chủ yếu của năng lượng hiện nay (khoảng 80%) là được cung cấp từ nguồn nhiệt điện, nghĩa là từ than, dầu khí và năng lượng hạt nhân. Nhưng mối quan tâm của sự tăng trưởng toàn cầu là xem xét sự thiếu bền vững của dạng năng lượng này, thể hiện ở sự phá vỡ thị trường nhiên liệu hóa thạch và sự leo thang quá mức của giá cả như giá đất hiện nay. Cùng với sự dao động của thị trường hóa thạch và sự cân nhắc rất cẩn thận đối với năng lượng hạt nhân, là hậu quả đáng kể về môi trường ở nhà máy nhiệt điện, đã đặt ra nhiệm vụ quan trọng của chính sách năng lượng bền vững là phát triển mạnh mẽ việc cung cấp năng lượng phục hồi. Công nghệ năng lượng phục hồi tồn tại ở nhiều dạng. Hiện nay quan tâm nhiều nhất về năng lượng phục hồi là điện năng sản xuất từ gió, mặt trời, địa nhiệt, … Nhưng nguồn năng lượng phục hồi lớn nhất đã được công nghệ chứng minh là THỦY ĐIỆN.

Thủy điện là nguồn năng lượng phục hồi, sạch và có vai trò then chốt trong phát triển bền vững với nhiều lý do khác nhau. Chúng là năng lượng phục hồi và cung cấp năng lượng không làm cạn kiệt nguồn, đúng như là định nghĩa của sự bền vững, là “phát triển mà thỏa mãn nhu cầu dân chúng hôm nay, mà không làm tổn hại khả năng của thế hệ tương lai, để thảo mãn nhu cầu của họ”. Thủy điện là nguồn năng lượng sạch, sản xuất không gây ô nhiễm không khí, làm giảm sự lan tỏa hiệu ứng nhà kính, góp phần giảm thiểu sự thay đổi khí hậu, gây ra các hiện tượng cực trị thủy văn (lũ lụt, hạn hán, nhiệt độ quá cao hay quá thấp, nước biển dâng cao, …) làm tổn thất kinh tế xã hội dân sinh ở phạm vi khu vực và toàn cầu, do hậu quả của sự đốt nhiên liệu hóa thạch. Do đó, vì lợi ích môi trường, Hội nghị chuyên đề Liên hiệp quốc về “Thủy điện và sự phát triển bền vững”, tổ chức ở Bắc Kinh năm 2004 đã nhấn mạnh sự quan trọng chiến lược của sự phát triển thủy điện trong xóa đói, giảm nghèo và sự làm giảm khói thải hiệu ứng nhà kính. Các hội nghị quốc tế khác như “Hội nghị về năng lượng phục hồi” tổ chức ở Born năm 2004, Hội nghị bộ trưởng châu Phi về “Thủy điện và sự phát triển bền vững” tổ chức ở Johaunesburg năm 2006, được cam kết tăng cường phát triển thủy điện như một phương án năng lượng phục hồi chủ yếu, để thúc đẩy sự phát triển bền vững, hội nhập khu vực, an ninh nước và lương thực và thủ tiêu đói nghèo.

Đối với năng lượng, các công trình thủy điện với hồ chứa, có khả năng cung cấp vận hành linh hoạt nhất, đáp ứng hầu hết các nhu cầu cấp tốc khi dao động phụ tải điện năng. Nó không những hỗ trợ đắc lực các nguồn nhiệt điện lớn, nguồn năng lượng hạt nhân được vận hành có hiệu quả, mà còn là nguồn điện tốt nhất để phối hợp sử dụng có hiệu quả các nguồn năng lượng phục hồi khác như năng lượng gió và mặt trời, mà vốn là nguồn năng lượng không liên tục. Ngoài ra, thủy điện còn thực hiện các dịch vụ hỗ trợ cho hệ thống lưới điện vận hành tốt nhất, khi thực hiện các chức năng điều chỉnh tần số, điều chỉnh điện thế, dự trữ quang, …

Ngoài vai trò quan trọng của thủy điện trong cân bằng năng lượng, chúng ta không thể quên vai trò của thủy điện trong cân bằng nguồn nước. Thủy điện nằm trong hai phạm trù của an ninh năng lượng và an ninh nguồn nước, mà chính sự an ninh nguồn nước lại là vấn đề thế giới cũng như khu vực, rất quan tâm.

Đối với nước, một yếu tố thiết yếu của cuộc sống muôn loài, mà bước sang thế kỷ 21, đã trở thành vấn đề cấp thiết của thế kỷ, trước sự gia tăng nhu cầu, chủ yếu là gia tăng dân số, đồng thời trước những thay đổi khắc nghiệt của khí hậu. Sự thay đổi khí hậu ngày nay đã tác động đến toàn cầu, ngày càng trở nên hiện thực, với những hiện tượng khí hậu, thủy văn cực trị xảy ra dồn dập ở mọi nơi, từ những nước công nghiệp hóa tiêu biểu, đến những nước đang phát triển. Vì vậy, yêu cầu đặt ra đối với toàn thế giới là phải “Quản lý bền vững nguồn nước”, tăng cường hợp tác quốc tế, đặc biệt là với nguồn nước xuyên biên giới, mà có gần 150 nước trên thế giới có liên quan đến vấn đề này, kể cả Việt Nam. đồng thời phải phối hợp nhiều biện pháp để quản lý nguồn nước, như phối hợp chặt chẽ và có hiệu quả giữa biện pháp kết cấu và phi kết cấu để quản lý nguồn nước có hiệu quả hơn.

Đối với Việt Nam, nghiên cứu thủy điện theo phương châm chỉ đạo “Khai thác thủy năng được coi là con đường cơ bản xây dựng nguồn năng lượng quốc gia” thì việc phát triển thủy điện trong thời gian qua, thực chất đã, vừa là cứu cánh cho sự phát triển năng lượng, vừa là thành phần chủ đạo tạo nguồn cho phát triển nông nghiệp với đất nước gần 80% dân số là nông dân, cho phát triển công nghiệp và dân sinh đồng thời cũng là nguồn để giảm nhẹ thiên tai (lũ lụt, hạn hán) bảo vệ môi trường tự nhiên và xã hội.

Việc điểm lại vài nét về phát triển thủy điện trong bối cảnh chung của phát triển ngành điện, là cơ sở để tiệm cận với những vấn đề hiện đại đã và đang đặt ra cho sự phát triển và quản lý bền vững nguồn nước nói chung và thủy điện nói riêng.

Kết luận

Như mục tiêu đã nêu, về vấn đề “Nguồn thủy năng Việt Nam – hiện trạng và phát triển”, tham gia vào hội thảo “Nguồn năng lượng thay thế trong thời kỳ giá nhiên liệu leo thang”, là vừa nhằm khẳng định vai trò thủy điện trong phát triển bền vững năng lượng quốc gia, vừa là làm rõ vai trò của thủy điện trong phát triển bền vững nguồn nước.

Vì vậy, chúng tôi không có tham vọng “Tổng kết quá trình phát triển thủy điện Việt Nam” thời gian qua, mà chỉ nêu vài nét về quá trình thủy điện Việt Nam với các nội dung : sự tham gia của thủy điện vào các thời kỳ phát triển điện lực, công tác qui hoạch thủy năng và các nét tổng quát về hiệu ích phát triển thủy điện Việt Nam.

Để từ đó, đưa ra những bài học kinh nghiệm của thế giới về quản lý và phát triển nguồn nước và nguồn thủy điện bền vững.

3.1       Đối với vấn đề nước thế giới

3.1.1    Điều quan tâm lớn nhất là vấn đề hợp tác đối với nguồn nước xuyên biên giới, bởi vì trên thế giới có gần 150 quốc gia liên quan đến vấn đề này. Ở Việt Nam trong 10 dòng sông chính, có đến ba dòng sông có vấn đề về nước xuyên biên giới, từ cả hai phía : ngoài vào Việt Nam và từ Việt Nam ra nước ngoài. Kinh nghiệm của thế giới chỉ ra rằng, đã có nhiều mâu thuẫn nảy sinh về phân chia dòng chảy xuyên biên giới, sao cho công bằng về quyền lợi và nghĩa vụ giữa các quốc gia ven sông. Tình hình này trong thế kỷ 21 sẽ căng thẳng hơn, khi sức ép từ tăng dân số, đô thị hóa, di cư nông thôn, ô nhiễm nguồn nước, … và đặc biệt là khi nguồn nước được coi là nguồn chiến lược.

3.1.2    Nước cho sản xuất lương thực và hệ sinh thái, cũng là vấn đề thế giới quan tâm, khi mà an ninh lương thực đang đe dọa một số khu vực trên toàn cầu. Vấn đề đặt ra là đánh giá đúng đắn “Vai trò của nước trong sản xuất lương thực” với những biện pháp nâng cao hiệu quả sử dụng nước với sự cải tiến hiện đại hóa các hệ thống cấp nước cùng với sự nâng cao ý thức tiết kiệm nước của người dân.

3.1.3        Chính vì sự bao trùm rộng lớn của vấn đề phát triển và quản lý bền vững nguồn nước, nên các học giả thế giới đã rút ra kết luận là “Rất cần thiết phải có sự kết hợp chặt chẽ hơn giữa hai nhóm biện pháp của quản lý nguồn nước, đó là biện pháp kết cấu và phi kết cấu”.

Từ những ví dụ, áp dụng kết hợp giữa các biện pháp phi kết cấu và kết cấu, về chống lũ ở Nhật Bản và Ba Lan, đã chỉ ra rằng : biện pháp kết cấu là phần cứng và biện pháp phi kết cấu là phần mềm, để bảo đảm hiệu quả quản lý nguồn nước bền vững.

Thực hiện các biện pháp phi kết cấu ở tất cả các lĩnh vực phát triển và quản lý bền vững nguồn nước phải từ sự chỉ đạo vĩ mô với những qui tắc, luật lệ rõ ràng, chính sách kinh tế xã hội môi trường phù hợp với lợi ích toàn cục, được nhân dân khu vực hưởng ứng thì mới có hiệu quả cao.

Đây là ba bài học lớn của vấn đề phát triển và quản lý bền vững nguồn nước thế giới, đều phải thực hiện ở tầm vĩ mô, để việc phát triển và quản lý bền vững nguồn nước Việt Nam có hiệu quả.

3.2       Đối với vấn đề thủy điện thế giới

3.2.1    Với tiêu đề “Thủy điện – phát triển nguồn năng lượng phục hồi, sạch và quan trọng nhất”, thế giới khẳng định vai trò thủy điện trong phát triển năng lượng bền vững. Điều này cũng nói lên sự cần thiết phải nâng cao hơn nữa, hiệu quả khai thác các sơ đồ thủy điện. Thời gian qua, những nước công nghiệp hóa cao trên thế giới, đã nhận thấy lợi ích to lớn của thủy điện, đã quay trở lại khai thác nguồn thủy điện, phổ biến là các sơ đồ thủy điện tích năng và đang tìm kiếm nguồn năng lượng thủy điện. Đối với Việt Nam, chúng ta đang triển khai các dự án thủy điện, theo quy hoạch thủy năng dòng sông được thực hiện trong thời gian qua. Tuy chất lượng các quy hoạch này đạt với yêu cầu ở thời điểm ấy, nhưng chắc chắn với sự phát triển cao của công nghệ và yêu cầu cao của sự phát triển kinh tế xã hội, sự xem xét điều chỉnh các quy hoạch trên trong thời gian tới là cần thiết, nhằm tối ưu hóa lợi ích nguồn thủy năng đất nuớc.

3.2.2    Bởi vì sự quan trọng của thủy điện trong thỏa mãn nhiều mục tiêu, bao gồm cả sự thay đổi khí hậu, nên Hội nghị quốc tế Liên hiệp quốc về thay đổi khí hậu, đã đề ra nhiệm vụ là làm thế nào để hình thành một hệ thống quốc tế mạnh về thủy điện. Hội nghị nhấn mạnh, ngành công nghiệp thủy điện cần phải tiếp tục làm việc với nhau, để thúc đẩy sự phát triển nhiều lợi ích thủy điện, bao gồm yếu tố quan trọng là thủy điện được xem như trụ cột của hệ thống năng lượng phục hồi hợp nhất, hỗ trợ đắc lực cho các dạng năng lượng phục hồi khác như năng lượng gió và mặt trời phát huy hiệu quả.

Thực hiện điều năng, nhiều nước ở châu Âu như Tây Ban Nha, … đã phối hợp thủy điện và năng lượng gió cung cấp điện cho các hòn đảo của nước họ.

Đây cũng là ý tưởng tốt, cho việc thực hiện cung cấp điện cho các đảo của chúng ta, giảm bớt tiêu thụ nhiên liệu hóa thạch.

3.2.3        Trước yêu cầu to lớn về giảm khí thải hiệu ứng nhà kính, bằng cách nâng cao tỷ lệ năng lượng phục hồi trong hệ thống năng lượng quốc gia, vai trò của thủy điện càng trở nên quan trọng

Thể hiện rõ nét nhất là dự thảo “Chỉ thị năng lượng phục hồi” (RES) của Liên minh châu Au, yêu cầu tăng tỷ lệ 20% năng lượng phục hồi vào 2020, mà yếu tố then chốt là tăng cường phát triển thủy điện và coi thủy điện là nguồn năng lượng phục hồi tốt nhất cho tương lai của trái đất và coi sự phát triển thủy điện là quyền lợi của cộng đồng.

Điều quan tâm thảo luận tại Hội nghị Hidronergia-2008, về vấn đề này là ảnh hưởng của chính sách đã phát triển thủy điện nhỏ, cải thiện hình ảnh của thủy điện nhỏ và các giải pháp kỹ thuật cho thủy điện nhỏ. Đây cũng là một kinh nghiệm cho các nước đang phát triển, khi đang khẩn trương khai thác các sơ đồ thủy điện lớn, cũng cần thiết quan tâm tới chiến lược phát triển thủy điện nhỏ, sao cho khai thác tài nguyên thủy điện có hiệu quả nhất.

3.2.4    Xuất bản báo cáo “những thủy điện thực tế tốt” của IEA, là một ý tưởng rất hay

Đây sẽ là những tài liệu thực tế điển hình về các mặt : thiết kế, quy hoạch, đánh giá ảnh hưởng môi trường phổ biến, … về các biện pháp bảo vệ môi trường, tối ưu hóa hiệu quả tích cực của thủy điện, …

Đây cũng là dịp rà soát lại những việc đã làm được trong quá trình thực hiện dự án thủy điện, để củng cố và phát huy các kết quả đó. Đồng thời cũng nhận biết được những việc chưa làm được để bổ khuyết nâng cao hiệu quả. Với chặng đường phát triển thủy điện Việt Nam thời gian qua. Đặc biệt trong những năm gần đây, đã và sẽ mang lại hiệu quả kinh tế, xã hội, môi trường rất to lớn. Nhưng chắc chắn trong quá trình thực hiện, không tránh khỏi những vấn đề cần bổ khuyết cho sự phát triển được hoàn hảo hơn. Vì vậy, ngay từ bây giờ, nên xây dựng một chương trình Nghiên cứu về thủy điện điển hình tốt Việt Nam theo tiêu chí quốc tế”, như IEA.

Đây là bốn bài học lớn về phát triển thủy điện thế giới, cần được thực hiện ở tầm vĩ mô, để đảm bảo phát triển và quản lý bền vững nguồn thủy điện Việt Nam.

Trên đây là một số ý kiến nhỏ về “Nguồn thủy năng Việt Nam – hiện trạng và phát triển”, với mong muốn qua hội thảo, mọi người nhận biết rõ hơn vai trò của thủy điện trong cân bằng năng lượng và cân bằng nguồn nước, đồng thời là trụ cột của nguồn năng lượng phục hồi.

Một vài đề xuất nhỏ trong phát triển và quản lý bền vững nguồn nước và nguồn thủy điện là mong muốn đất nước đạt được hiệu quả cao nhất nguồn tài nguyên quí giá này, mang lại phúc lợi cao cho toàn thể nhân dân.

Chân thành cám ơn Trung tâm Tư vấn và phát triển điện đã tạo điều kiện cho chúng tôi thực hiện nghiên cứu này.

Tp.HCM, 3-9-2008

Thảo luận

Vui lòng viết tiếng Việt có dấu !

  • ataşehir web tasarim - basketbol potası - k2 belgesi yenileme - hyundai yedek parça
  • Google a pornolar yazdığınızda karşımıza yüzlerce site çıkar fakat herbiri reklamlarla doludur ve ağız tadıyla porno izletmezler. Liseli porno fanatiği olarak benim tercihim yeni bir site olan pornhag.com'dur. Reklamsız porno seyri dilerim.